Tại xã Cao Thắng, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình từ xưa tới nay vẫn tọa lạc một tòa thành cổ. Nhân dân địa phương vẫn quen gọi là Thành Nhà Mạc. Nhưng kiến trúc cổng hiện còn của tòa thành thì lại không phải là kiến trúc Nhà Mạc. Trong hai năm 2015 – 2016, Bảo tàng tỉnh Hòa Bình được giao nghiên cứu đề tài khoa học cấp tỉnh: Thám sát, điều tra nghiên cứu và đề xuất phương án bảo tồn thành cổ tại xã Cao Thắng, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình”Đề tài do ông Bùi Ngọc Lâm – Giám đốc Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch làm chủ nhiệm đề tài, bà Nguyễn Thị Thi là thư ký đề tài. Thông qua việc nghiên cứu về kiến trúc của tòa thành, đề tài đã phần nào làm sáng tỏ về chủ nhân của tòa thành cổ.

CAOTHAWN1

Cổng thành phía Tây

Thành cổ xã Cao Thắng, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình tọa lạc trên một khoảng đất rộng khá bằng phẳng; Phía Bắc giáp sông Huỳnh; Phía Đông là dãy núi Quán Sơn hùng vĩ; Phía Nam nhìn ra cánh đồng lúa mênh mông; Phía Tây giáp khu dân cư xóm Bá Lam, xã Cao Thắng.

Tổng diện tích của tòa thành là 4ha. Hiện nay diện tích đất này được UBND xã Cao Thắng chia cho 4 thôn: Bá Lam 1, Bá Lam 2, Song Huỳnh, Chợ Bến. Hiện nay trong thành có 5 hộ nhận thầu đất. Trong đó có 4 hộ xây nhà tạm cấp bốn.

     Kiến trúc hiện nay của tòa thành chỉ còn lại  một phần tường, lũy, cổng thành và hào thành. Những kiến trúc bên trong do thời gian và thăng trầm của lịch sử nên đã không còn gì. Bên trong thành chỉ là diện tích đất để canh tác.

Theo điều tra khảo sát trong nhân dân, từ những năm 1975 trở về trước, cơ bản tường đá ong vẫn còn. Từ năm 1975 trở đi, đặc biệt trong giai đoạn từ 1980 - 1985, tường thành đã bị nhân dân địa phương đến đập để lấy đá ong. Tường đã bị đập gần hết. Chỉ còn lại rất ít đoạn còn sót lại. 

Thành có hình gần vuông, mỗi chiều khoảng 200m có tường gạch xây theo đúng hướng trục Bắc Nam Đông Tây, bốn góc có bốn hỏa hồi hình vòng cung với đường kính rộng khoảng 25m, nhô khỏi đường trục mặt tường khoảng 5-6m. Hình thể như trên được tạo nên bằng hệ thống tường bao cao 3m, có hào sâu bao quanh. Phía hào sâu tường gạch đá ong dựng đứng, phía bên trong thành thì dùng đất đổ dốc thoải dần từ mặt thành xuống, bề rộng khoảng 5-7m. Đất đổ như vậy vừa làm chỗ tựa vững chắc cho tường thành, vừa dễ cho quân  trong thành dễ bề lên xuống bảo vệ mặt thành. Nhìn từ trên cao xuống, tòa thành có phía Bắc tựa vào sông Huỳnh và dãy núi đá vôi Cao Đường. Ba mặt Đông, Nam, Tây có hào nước thông với sông Huỳnh ở cả mặt Tây lẫn mặt Đông.

Chính giữa mỗi cạnh tường thành là một cổng thành lớn, kiên cố, cao khoảng 6m, rộng gần 20m, xây bằng gạch bát (cổng Nam và Tây).

Cổng phía Tây được bảo tồn khá nguyên vẹn. Tuy nhiên qua thời gian, cổng bị nhiều cây cỏ, dây dại mọc che phủ. Bụi và mùn của lá cây bám dầy  đặc nhiều lớp trên nóc và trên tường cổng. Đoàn Điều tra thám sát đã mất khá nhiều công làm vệ sinh sạch sẽ để tìm hiểu về kiến trúc trên nóc cổng. Nhìn tổng thể, cổng được xây dựng là một khối trụ vuông. Tường dày. 4 góc phía ngoài của cổng(Đông, Tây, Nam, Bắc) có 4 chân đua ra (1m  x  1m). Bên trong và trên nóc cuốn vòm.

Khác với tường bao, cổng thành được xây bằng gạch bát, tức gạch đất sét  nung đỏ với hai loại chính : a- gạch bát mỏng gồm hai cỡ ( 20x30x4 cm và 25x25x4 cm), b- gạch bát dày (25x30x8 cm) (Hình). Cổng thành bao gồm hai nóc cuốn mái : nóc ngang ở phía ngoài và nóc dọc ở phía trong. Hai nóc vòm gối nhau thành hình chữ T (Hình). Cuốn mái vòm chủ yếu dùng gạch bát mỏng cỡ 20x30x4 cm, xếp thành hai lớp chồng lên nhau. Chúng tôi đếm được 51 viên dựng nằm ngang cho một cung vòm. Viên thứ 26 nằm ở chính giữa đỉnh, mỗi bên 25 viên, tạo một cánh cung có độ cao khoảng 80-90 cm và rộng gần 2m. Từ viên thứ 5 trở xuống được xây chặn bằng các lớp gạch nằm ngang, khiến phần vòm nhô lên chỉ còn khoảng 60cm. Tại phần vòm dọc cổng Tây, nửa phía Nam dùng gạch tổ ong xây chặn chân vòm thay cho gạch bát (Hình). Rất có thể do bị thiếu nguyên liệu gạch bát trong khi hoàn tất công trình. Nóc dài 6,3m; rộng 6,5m.

Xưa, con đường thiên lý thượng đạo Bắc - Nam nằm ở phía Tây tòa thành và cách khoảng 500 mét đường chim bay. Con đường này hiện còn dấu vết là con đường người Pháp đã khai thác nằm về phía Tây (núi) và đi song song với đường Hồ Chí Minh hiện nay. Có lẽ vì vậy, cổng phía Tây của tòa thành được xem là rất quan trọng, được xây dựng kiên cố và hiện còn bảo tồn tốt nhất.

 Sau khi khảo sát Ban Chủ nhệm đề tài đã nhận thấy kiến trúc của cổng Tây là kiến trúc Vauban (kiến trúc Pháp).

Cũng như cổng Tây, cổng Nam cũng bị nhiều cây cỏ, dây dại mọc che phủ. Bụi và mùn của lá cây bám dầy  đặc nhiều lớp trên tường cổng. Đoàn Điều tra thám sát đã mất khá nhiều công làm vệ sinh sạch sẽ để tìm hiểu về kiến trúc của  cổng.

Về cơ bản kiến trúc cổng gạch phía Nam này tương tự như cổng phía Tây.  Cổng được xây dựng là một khối trụ vuông. Tường dày. 4 góc phía ngoài của cổng(Đông, Tây, Nam, Bắc) có 4 chân đua ra. Bên trong cuốn vòm. Tường cổng được xây bằng gạch nung chắc, loại I, gạch mỏng, rộng 14cm, dày 4cm, dài 30cm. Cổng phía Nam được coi như cổng chính của tòa thành, kích thước cũng tương tự cổng phía Tây, nhưng đã bị xập nóc và mất các phần chốt, bản lề cửa bằng đá. Trước cổng phía Nam, ở trục chính giữa cổng, bên kia hào nước, có một gò đất nổi cao trên 2m, rộng hàng trăm mét, đã bị san bằng thành ruộng cấy từ những năm 1960. Có thể hình dung đây là một ụ bình phong che chắn chính môn phía Nam.

Theo các cụ cao tuổi trong xóm cho biết, xưa cổng Nam không có cầu. Muốn sang phải lội qua hào. Như vậy, việc ra vào thành ban đầu theo thiết kế chắc hẳn phải dùng cầu kéo qua hào nước.  

Cổng phía Đông đã mất gần hết, chỉ còn lại dấu vết một đoạn trụ cổng. Hiện nay có  hộ gia đình nhà ông Thi đã làm nhà cấp 4 trên nền cổng. Cổng phía Đông không còn nữa và cũng không thấy dấu tích gạch bát mà chỉ thấy gạch đá ong. Vì vậy, chúng tôi ngờ rằng cổng thành phía Đông này xây bằng gạch đá ong. Việc ra vào thành ban đầu theo thiết kế chắc hẳn phải dùng cầu kéo qua hào nước.

Theo người dân cho biết thì không có cổng Bắc. Vì họ không nhìn thấy bao giờ. Theo nghiên cứu của đoàn Điều tra thám sát thì phía Bắc của thành tiếp giáp sông Huỳnh nên cửa Bắc có thể là “ủng môn”(cửa ra vào bằng đường thủy), nên người dân không nhìn thấy dấu vết kiến trúc cổng.

Toàn bộ tòa thành có tường bao bằng đá ong khai thác tại quanh vùng, có nhiều kích thước khác nhau. Theo khảo sát thực địa và đối chiếu trên ảnh có thể kết luận như sau: tường thành xây bằng gạch tổ ong, kích thước trung bình 60cm (dài) x 30cm (rộng) x 15cm (dày). Kiểu xây phổ biến là đặt gạch so le cài nhau cả theo chiều dọc trắc diện lẫn chiều ngang bình diện. Đây là loại vật liệu rất phổ biến trong vùng. Phần móng tường bao rộng trung bình 120cm, gồm 5 hàng, sau đó xây cao 3m (khoảng 20 hàng gạch), dày 80-90 cm (ba dãy gạch). Gạch tổ ong xây tường bao thành hiện tại không còn rõ chất kết dính, tuy nhiên chúng gắn kết khá chặt. Một số bằng chứng cho phép dự đoán chúng có thể cũng được kết dính bằng vữa vôi cát trộn mật như đối với gạch bát xây cổng thành.

Khoảng 1500m dài tường bao bốn cạnh tòa thành đã được xây lên với tổng số gạch ước tính lên đến trên dưới 200 ngàn viên gạch tổ ong kích thước lớn (trung bình 60x30x15 cm). Hiện tại trên mặt tường bao nửa phía Đông sát  cổng phía Nam còn một số lỗ tròn đường kính 10-15cm cách đều nhau (khoảng 3m một hốc), bên dưới có nhiều mảnh đá vôi như để chèn chân cột. Các lỗ này có thể là lỗ cắm cờ trên mặt thành (Hình).

Xung quanh 4 bề tường thành, cây cối, lau sậy, dây leo chằng chịt. Đoàn Điều tra đã mất rất nhiều công để phạt cây, dọn vệ sinh dọc ngang 4 phía tường thành để tìm các dấu vết kiến trúc còn sót lại của tường thành. Cuối cùng đã phát hiện ra một số đoạn tường đá ong còn lại. Đây là dữ liệu rất quan trọng, là cơ sở cho công tác nghiên cứu bảo tồn và phục dựng thành cổ.

caothang1

Đoạn tường đá ong giáp cổng Nam về hướng Đông Nam

Lũy thành được đắp bằng đất sét đào từ hào lên. Chỉ đắp bên trong, không đắp bên ngoài tường. Lũy chắc chắn, cao gần bằng chiều cao của tường, chân mở rộng bao bọc vững  chắc cho tường thành.

Xung quanh 3 mặt (Đông, Tây, Nam) tường thành đều có hào. Hào rộng tới 50m. Nước cung cấp cho ba mặt hào này đều được lấy từ sông Huỳnh. Hào thông với sông Huỳnh ở hướng Tây Bắc và Đông Bắc. Riêng phía Bắc có sông Huỳnh tạo thành hào. Hào thành là kiến trúc quan trọng bảo vệ thành.

Tổng hợp các tư liệu, chúng tôi thấy rằng kiến trúc hiện còn của tòa thành cổ là kiến trúc Vauban.

Vauban là tên một kỹ sư công binh người Pháp: Sébastien Le Prestre de Vauban (1633 – 1707). Sinh thời vào giai đoạn loạn lạc và nội chiến của Pháp, ông sớm thể hiện tài năng của mình trong lĩnh vực khoa học quân sự rồi được phong hàm Thống chế và vào Viện Hàn lâm quốc gia Pháp vào năm 1699. Có thể nói, kiến trúc quân sự chính là sự nghiệp để đời của Vauban: Trong suốt cuộc đời, ông đã cho xây dựng mới hơn 30 toà thành và cải tạo không dưới 300 đồn luỹ, công sự phòng ngữ khác nhau. Những công trình thành luỹ đó, tập hợp lại, đã trở thành một di sản lớn trong lịch sử kiến trúc Pháp và sau đó đã được truyền ra rất nhiều quốc gia trên thế giới. Tóm lại, suốt giai đoạn từ thế kỷ XVII cho đến XIX đã hình thành và tồn tại một hệ thống kiểu thức xây dựng thành luỹ mang tên chính người tạo ra nó: Vauban.   

Là một người uyên bác và thức thời, Vauban đã sớm biết ứng dụng kiến thức khoa học nói chung và hình học nói riêng trong kiến trúc quân sự. Tầm nhìn của Vauban gần như đã thay đổi hẳn tư duy xây dựng công sự phòng thủ ở phương Tây đương thời, đồng thời cũng tỏ rõ sự vượt trội so với lối xây dựng “Vương thành” lừng lẫy một thời ở các nước Đông Á.

Thành Vauban, thực tế là cả một hệ thống phức hợp các công trình kiến trúc liên quan mật thiết với nhau và mang tính phòng thủ toàn diện từ tường thành, pháo đài, đài giác bảo, pháo môn, tường bắn… cho đến hào thành và đường bao ngoài hào. Khi được tính toán kỹ về mặt sắp đặt và kích thước, khối công trình đồ sộ đó hoàn toàn có thể tạo ra những “đô thị bất khả xâm phạm” (Lê Văn Lan, 2004); và như vậy, thật không ngoa khi người Việt gắn danh “vô băng” cho thành “vô-băng” (Vauban).

Kiến trúc Vauban bắt đầu sang Việt Nam từ thế kỷ XVII. Nhiều công trình kiến trúc của Việt Nam có mang kiến trúc Vauban, tiêu biểu có Kinh Thành Huế.

Với kiến trúc Vauban hiện nay của tòa thành cổ thì vẫn chưa đủ cơ sở để chứng minh chủ nhân của tòa thành thuộc về thời Nguyễn.

caothang2

 Hào thành phía Tây Nam

Để tìm hiểu về chủ nhân của tòa thành cổ, Ban Chủ nhiệm đề tài đã tiến hành nghiên cứu tìm hiểu trên nhiều phương diện: Điều tra tìm hiểu trong nhân dân; Đào thám sát khảo cổ các hố tìm tư liệu trong lòng đất; Nghiên cứu các hiện vật trong quá trình điều tra, thám sát; Nghiên cứu về lịch sử địa phương; Nghiên cứu tìm những yếu tố quan trọng về vị trí địa lý của vùng đất Cao Thắng đối với Chính quyền Nhà Mạc... cùng các tư liệu khác đã cho thấy chủ nhân tòa thành thuộc về nhà Mạc trong chiến lược chốt chặn con đường thượng đạo thông với miền Hà Trung, Thạch Thành, Cẩm Thủy, Vĩnh Lộc (Thanh Hóa) do các tướng Trịnh, Nguyễn phù tá Lê Trung Hưng làm căn cứ. Nhận định này có tình logic cao nó đã trả lời được câu hỏi tồn tại rất nhiều năm nay: tại sao nhân dân trong khu vực lại gọi là Thành nhà Mạc.

Tuy nhiên thời Mạc tòa thành được đắp bằng đất sét. Đây là nguyên liện có sẵn rất nhiều tại địa phương.

          Tới thời Nguyễn, thành cổ Cao Thắng được chính quyền bảo hộ cho xây dựng bằng gạch và đá ong với mục đích chống lại các cuộc khởi nghĩa lớn nhỏ của nhân dân ta và cả nạn giặc giã bên ngoài hoành hành trong các khu vực phía Tây Nam của Thăng Long.

          Nhà Nguyễn mặc dù chính quyền Trung ương trong miền Trung (Huế), tuy nhiên để bảo vệ khu vực phía Bắc nhà Nguyễn cũng hết sức quan tâm như xây dựng củng cố lực lượng quân đội, xây dựng, phục sửa thành trì.

          Thành cổ Cao Thắng đã được chính quyền bảo hộ cho tận dụng tu sửa lại duy trì và hoạt động để bảo vệ các hoạt động chống phá của giặc cướp (tàn dư giặc cờ đen), các phong trào chống Pháp quanh khu vực và miền rừng núi lân cận trải dài từ Thanh Hóa đến Hòa Bình vào những năm nửa cuối của Thế kỷ XIX. (Cũng như nhiều Thành khác trong cả nước.

      Thành cổ Nhà Mạc, xã Cao Thắng, huyện Lương Sơn là di sản văn hóa của tỉnh của quốc gia, là tài sản vô giá của nhân loại. Thành cổ là bức thông điệp mà các bậc tiền nhân đã để lại cho các thế hệ mai sau, thông qua đây thế hệ trẻ ngày hôm nay có thể hiểu thêm về lịch sử tiến trình dựng nước và giữ nước, đồng thời thông qua di tích thành cổ, có thể hiểu sâu, rộng hơn về giá trị và bản sắc văn hóa của thời kỳ thành cổ được khởi dựng.

Do vậy việc quản lý nhằm giữ gìn và phát huy những giá trị của thành cổ là một vấn đề quan trọng. Đặc biệt là trong quá trình toàn cầu hóa trên mọi lĩnh vực như hiện nay, thì vấn đề cấp thiết được đặt ra là quản lý như thế nào để giải quyết thỏa đáng quan hệ kinh tế và văn hóa, bảo tồn và phát triển.

Đề tài “Thám sát, điều tra nghiên cứu và đề xuất phương án bảo tồn thành cổ tại xã Cao Thắng, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình”  có ý nghĩa rất quan trọng, góp phần nâng cao công tác quản lý và phát huy giá trị di sản văn tỉnh Hòa Bình. 

                                                                                           Nguyễn Thị Thi

Số điện thoại hữu ích

Số điện thoại tiếp nhận của các tổ chức, cá nhân liên quan đến giải quyết Thủ tục hành chính 02183.899.255-Tại Sở Tư Pháp

Hot line: 0898.701.005 Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
Hòm thư:sovanhoattdlhoabinh@gmail.com 

Video hoạt động ngành

Các dịch vụ du lịch

khu diem den du lich copy
dich vu lu hanh
dich vu luu tru
dich vu mua sam
dich vu van chuyen
dich vu an uong
huong dan vien
cham soc suc khoe
BAN LAC copy

LONG HO HB copy

CHUA TIEN LAC THUY copy

logo vi

Thống kê truy cập

website counter

Template Settings

Color

For each color, the params below will be given default values
Blue Oranges Red

Body

Background Color
Text Color

Header

Background Color

Spotlight3

Background Color

Spotlight4

Background Color

Spotlight5

Background Color

Footer

Select menu
Google Font
Body Font-size
Body Font-family
Direction